Cơ hội hưởng lợi từ các hiệp định thương mại tự do - Cơ sở dữ liệu cần thiết
(Số liệu: www.vietdatabase.blogspot.com)
Sau khi các Hiệp định thương mại tự do (FTA) Việt Nam - EU và Hiệp
định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) kết thúc đàm phán và được ký
kết, dư luận thường nhắc đến ngành Dệt may, một ngành được cho là hưởng
lợi nhiều nhất từ các hiệp định FTA, nhất là từ Hiệp định TPP, FTA Việt
Nam - EU.
Cam kết Hiệp định TPP nhất trí xóa bỏ thuế quan với hàng dệt may Việt
Nam, một số mặt hàng nhạy cảm sẽ xóa theo lộ trình. Điều kiện để được
hưởng mức thuế suất 0% là đáp ứng các quy tắc xuất xứ từ sợi trở đi tại
nước xuất khẩu hoặc được tính toán cộng gộp từ nội khối, đối với Hiệp
định FTA Việt Nam - EU thì lại quy định xuất xứ từ vải.
Với thuế suất đang áp dụng cho hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ
từ 17-18%, vào EU từ 8-12% thì khi các Hiệp định TPP, FTA Việt Nam - EU
có hiệu lực, Việt Nam sẽ là nước được hưởng lợi rất lớn. Bởi vì nhiều
nước thành viên TPP, EU đang là các đối tác nhập khẩu hàng dệt may chủ
yếu của Việt Nam như: Mỹ (chiếm 40%), EU (13,7%), Nhật Bản (10,6%)…
Tuy nhiên, đi liền với những cơ hội trên, dệt may Việt Nam sẽ gặp
không ít thách thức. Bất cập lớn nhất của dệt may Việt Nam trong chuỗi
cung ứng chính là khâu cung cấp nguyên, phụ liệu đầu vào, hiện chỉ đáp
ứng được chưa tới 1% nhu cầu về bông, 30% nhu cầu xơ. Sản lượng sợi đạt
trên 1 triệu tấn/năm, trong đó gần 70% xuất khẩu. Sợi sử dụng trong nước
chủ yếu nhập khẩu (tương đương lượng sợi xuất khẩu, nhưng chất lượng
cao hơn) từ Trung Quốc 43%, Hàn Quốc 20%, Đài Loan 15%, các nước TPP chỉ
9,7%.
Khâu dệt vải tạo ra khoảng 1,5 tỷ mét vải/năm (chiếm 18% nhu cầu).
Trong khi đó, nhập khẩu vải tới 6,7 tỷ mét, chiếm trên 80% nhu cầu, chủ
yếu nhập từ Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, các nước TPP chỉ chiếm 5,3%.
Thế mạnh của dệt may Việt Nam là ở công đoạn may. Tuy nhiên, phương
thức gia công xuất khẩu là chủ yếu, chiếm 70%; phương thức mua nguyên
liệu, bán thành phẩm theo khách hàng chỉ định hoặc tự khai thác (FOB I
và FOB II) chỉ ở khoảng 20%; phương thức sản phẩm bao gồm cả thiết kế
(ODM) là 9% và phương thức sản xuất và tiếp thị bán hàng trực tiếp tại
các trung tâm thương mại nước ngoài (OBM) chỉ vỏn vẹn 1%. Vì thế, hiệu
quả thấp và giá trị tăng thêm của hàng dệt may xuất khẩu chỉ chiếm trên
50%.
Như vậy, may xuất khẩu lệ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên, phụ liệu
nhập khẩu, mà chủ yếu không phải từ các nước thành viên Hiệp định TPP và
Hiệp định Việt Nam - EU.
Phương thức giúp dệt may Việt Nam chủ động thâm nhập thị trường EU
Để dệt may Việt Nam có thể đứng vững và phát triển trong chuỗi giá
trị toàn cầu, nhất là tại thị trường EU, chúng ta cần sớm có một hệ
thống giải pháp đồng bộ và nhất quán cho lĩnh vực dệt may.
Thứ nhất, doanh nghiệp (DN) dệt may Việt Nam cần lựa chọn
phương thức thích hợp để chủ động thâm nhập vào các kênh phân phối của
thị trường EU. Cụ thể:
(i) Thiết lập mối quan hệ mật thiết, chặt chẽ với các trung tâm phân
phối, các siêu thị lớn trong thị trường EU thông qua các thương vụ Việt
Nam tại EU, phái đoàn Liên minh châu Âu tại Việt Nam, các đại sứ quán
của các nước EU tại Việt Nam để xuất khẩu trực tiếp, giảm thiểu tình
trạng xuất khẩu qua trung gian.
(ii) Tổ chức liên doanh dưới các hình thức như sử dụng giấy phép,
nhãn hiệu hàng hoá của các nhãn hiệu nổi tiếng. Theo hình thức này các
nhà xuất khẩu Việt Nam nên áp dụng chiêu thức mua nhãn hiệu hàng hoá của
các nhà sản xuất nổi tiếng châu Âu để gắn vào sản phẩm của mình rồi mới
tung vào thị trường EU. Sau một thời gian khi người tiêu dùng EU đã
quen thì bắt đầu tiến hành gắn nhãn hiệu của nhà sản xuất Việt Nam bên
cạnh nhãn hiệu nhà sản xuất châu Âu. Khi nhu cầu của người tiêu dùng đối
với loại sản phẩm có gắn hai nhãn hiệu bắt đầu có dấu hiệu tăng nhanh
thì các nhà sản xuất Việt Nam có thể bóc bỏ nhãn hiệu của nhà sản xuất
châu Âu. Các DN có tiềm lực kinh tế Việt Nam có thể liên doanh liên kết,
để trở thành công ty con của các công ty xuyên quốc gia có thương hiệu
nổi tiếng của EU.
Bên cạnh việc xuất khẩu trực tiếp hay hình thức liên doanh xuất khẩu
để thâm nhập thị trường EU, các DN dệt may Việt Nam cũng cần nghiên cứu
tăng cường thâm nhập bằng hình thức đầu tư trực tiếp nhằm giảm bới các
rào cản phi thuế quan.
(iii) Đẩy mạnh quảng bá thương hiệu hàng may mặc Việt Nam trên thị
trường EU thông qua việc tích cực chủ động tham gia các gian hàng, hội
chợ, triển lãm tại nước ngoài, xây dựng các gian trưng bày trên thị
trường nước ngoài…
Thứ hai, cần nâng cao chất lượng hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu.
DN dệt may Việt Nam cần tiến hành kiểm tra chặt chẽ chất lượng nguyên
phụ liệu, tạo bạn hàng cung cấp nguyên phụ liệu ổn định, bảo quản tốt
nguyên phụ liệu tránh xuống phẩm cấp. Bên cạnh đó, cần tuân thủ nghiêm
ngặt yêu cầu của bên đặt hàng về nguyên phụ liệu, công nghệ cũng như quy
trình sản xuất.
Nâng cao chất lượng hàng dệt may Việt Nam bằng việc đổi mới quy
trình, đạt được những chứng chỉ về quản lý chất lượng ISO 9000, chứng
chỉ về môi trường ISO 14000… Những DN chưa đạt các chứng chỉ trên cần cố
gắng hơn nữa để có được. Bởi vì, người tiêu dùng EU rất quan tâm và
quen sử dụng những hàng hoá có chất lượng đạt tiêu chuẩn quốc tế. Cho
nên, hàng dệt may của các DN có được các tiêu chuẩn trên sẽ dễ dàng thâm
nhập và được thị trường khó tính EU chấp nhận.
Ngoài những tiêu chuẩn mang tính chất quốc tế, DN dệt may Việt Nam
cũng cần đáp ứng được cả với những tiêu chuẩn riêng có của EU như: Tiêu
chuẩn về nhãn hiệu hàng may mặc dựa vào tiêu chuẩn ISO 3758, tiêu chuẩn
về giặt dựa vào ISO 3759, 5077 và 6330; độ hút ẩm dựa vào tiêu chuẩn của
Đức DIN 5411, giặt dựa vào tiêu chuẩn ISO 3175, đánh giá mức độ vải bị
xù sợi dựa vào tiêu chuẩn của Anh BS 5811… Đây là những tiêu chuẩn mà
khách hàng thị trường EU rất quan tâm, các DN dệt may Việt Nam cần hết
sức chú ý để có thể đáp ứng tốt những yêu cầu này.
Đối với các DN có điều kiện về tài chính có thể nghiên cứu và thực
hiện thêm các tiêu chuẩn về nhãn hiệu sinh thái đối với sản phẩm nhằm
tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường EU.
Thứ ba, liên kết với các DN trong nước sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may sang EU.
Các DN dệt may Việt Nam cần liên kết với nhau trong quá trình kinh
doanh, sản xuất cũng như xuất khẩu hàng dệt may. Việt Nam đã thành lập
Hiệp hội Dệt may Việt Nam, thành lập Tổng công ty dệt may Việt Nam và
sau nữa là Tập đoàn dệt may Việt Nam. Các DN vừa và nhỏ cần liên kết lại
với nhau nhằm giảm bớt sức ép cạnh tranh nội bộ giữa các ngành và nâng
cao khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bên cạnh những giải pháp kể trên, DN cần chú trọng khâu tổ chức sản
xuất, tìm mọi cách tiết giảm chi phí sản xuất, nghiên cứu áp dụng các
công nghệ sản xuất tiên tiến, phần mềm quản lý để nâng cao năng suất lao
động và khả năng cạnh tranh. Tận dụng cơ hội thu hút đơn hàng, duy trì
và khai thác hiệu quả các khách hàng truyền thống và phát triển thêm
được khách hàng mới, góp phần ổn định sản xuất, bảo đảm việc làm cho
người lao động. Chú trọng đến việc xây dựng liên kết chiến lược với các
khách hàng là những nhà bán lẻ, nhập khẩu lớn trên thế giới, tham gia
vào các chuỗi liên kết của họ nhằm ổn định đơn hàng, khách hàng, tiếp
cận kinh nghiệm quản lý, kinh doanh của họ…
Tài liệu tham khảo:
1. Niên giám thống kê hải quan về hàng hoá xuất nhập khẩu Việt Nam;
2. Báo cáo ngành Dệt may Việt Nam.
3. www.viettelcargo.com: chuyên cung cấp dịch vụ vận chuyển
4. www.indochinapost.com
5. www.samvietgroup.com